Chuyện về pho tượng bằng gỗ trầm hương dát vàng trong chùa cổ ở thái hoà

Chùa Keo (thái hoà) gắn liền với câu chuyện về cuộc đời Thiền sư Không Lộ thời nhà Lý và bức tượng bằng gỗ trầm hương dát vàng.

Pho tượng gỗ trầm hương dát vàng

Chùa Keo (Duy Nhất, Vũ Thư, thái hoà) không chỉ là điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng ở VN với kiến trúc rất dị nhưng mà còn lưu giữ nhiều cổ vật có giá trị.

Một góc chùa Keo (Vũ Thư, thái hoà)

khác lạ, chùa gắn liền với câu chuyện về cuộc đời Thiền sư Không Lộ – vị đại sư có công phò trợ Lý Công Uẩn lên ngôi vua và bức tượng bằng gỗ trầm hương dát vàng.

Ông Nguyễn Văn Khánh – người dân xã Duy Nhất, song song là người trông coi chùa Keo san sẻ: “Trong các tài liệu cổ lưu tại chùa, trước khi xuống tóc, Thiền sư Không Lộ làm nghề chài lưới nên trong điện thờ Phật có một chiếc thuyền tượng trưng, sử dụng vào dịp lễ hội, rước kiệu”.

Năm 1061, Thiền sư Không Lộ dựng chùa Nghiêm quang đãng Tự tại Giao Thủy (Nam Định). Tên nôm của Giao Thủy là làng Keo nên chùa còn được gọi là chùa Keo.

Sau gần 500 năm, nước sông Hồng dâng to, cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa.

Một phòng ban dân cư nơi đây chuyển đi nơi khác, lập thành làng Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định), xây dựng nên ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới (Keo Hạ).

Một nửa dân làng chuyển sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ (nay là xã Duy Nhất, Vũ Thư, thái hoà) và cũng dựng một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên (Keo Thượng). Chùa khởi công vào năm 1630, còn có tên tự là “Thần quang đãng Tự”. Đây chính là ngôi chùa chứa pho tượng cổ của Thiền sư Không Lộ.

Ông Nguyễn Văn Khánh – người trông coi chùa Keo.

Về lịch sử pho tượng này, ông Khánh cho biết: “Thiền sư Không Lộ mất vào thời vua Lý Nhân Tông, tại Nam Định. Trong thời kì Thiền sư ốm, môn sinh và người dân trong làng đã sử dụng gỗ trầm hương để tạc chân dung ngài.

Các môn sinh mới hoàn thành xong phần đầu và phía trước của tượng. Sau đó họ dừng lại không tạc nữa vì Thiền sư mất trước khi tượng hoàn thành. Sau này, bức tượng được dát vàng, phủ bên ngoài là áo cà sa của Thiền sư Không Lộ. Dân làng gọi đó là “Thánh tượng”. Hài cốt của Thiền sư hóa thành xá lợi.

Khi trận lụt cuốn trôi chùa Keo cũ ở Nam Định, chùa Keo Thượng (thái hoà) xây xong, xá lợi và pho tượng trầm hương được đưa về đây thờ phụng.

Pho tượng phục dựng tương tự nguyên mẫu. 

Hiện, xá lợi được thờ trong am còn bức tượng đặt trong hậu cung của chùa. Quanh năm hậu cung được khóa kín cửa.

Đại Đức Thích Thanh quang đãng – Trụ trì chùa Keo san sẻ, ba năm một lần nhà chùa tổ chức tắm tượng và thay áo cho ngài vào đêm trước khi diễn ra lễ hội.

Một cụ già trong Ban Khánh tiết của làng sẽ cùng với nhà chùa tiến hành thay áo.

Người được lựa chọn phải hội đủ tiêu chuẩn: Ba tháng chay tịnh dưới sự chứng kiến của nhà chùa, thân thể luôn sạch sẽ sẽ, lời nói nhẹ nhõm, không văng tục…

nghi tiết tắm tượng được thực hiện rất nghiêm nhặt. Tượng được rước từ hậu cung ra, sử dụng nước dừa pha với tinh dầu bưởi, nước gừng để tắm và thiếp vàng lại cho tượng.

Đại đức Thích Thanh quang đãng (áo vàng) – Trụ trì chùa Keo.

khác lạ, mọi người phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy khi tiến hành thay áo và tắm cho tượng “Thánh”. tới nay, những điều phải giữ kín là gì, không ai dám nói ra.

“Sau này, do nhu cầu chiêm bái tượng của du khách và Phật tử quá lớn, nhà chùa đã mời nghệ nhân tới, phục dựng một bức tượng khác nhưng bằng chất liệu đồng. 

Tượng mới tương tự nguyên mẫu từ khuôn mặt, kích thước và thần thái. Bức tượng mới phục dựng được đặt trên ban thờ trước cửa cung cấm”, Đại đức Thích Thanh quang đãng kể.

Ngoài pho tượng cổ này, chùa Keo còn bảo quản một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng.

Tương truyền, đây là đồ sử dụng của Thiền sư Không Lộ. Ba vỏ ốc được Thiền sư nhặt được khi làm nghề tiến công cá, sau này tu hành, ngài sử dụng làm chén uống nước.

Giếng cổ trong sân chùa

Bên cạnh cổ vật, chùa Keo còn có huyền tích về chiếc giếng cổ. Giếng xếp từ 36 cối đá thủng, từng sử dụng giã gạo nuôi thợ xây chùa xưa kia.

Ông Khánh cho hay, chùa được khởi công từ năm 1630 tới năm 1632 thì hoàn thành. Với nhiều hạng mục nhà cửa, theo suy đoán phải có hàng ngũ thợ lên tới nghìn người mới làm xong nhanh chóng như vậy.

Bên trong lòng giếng, ta thấy rõ những cối đá thủng nhô lên khỏi mặt nước.

Họ đào giếng, lấy nước sử dụng. Nhát cuốc trước tiên, một dòng nước trong veo phụt lên, cao hơn đầu người.

Đội thợ làm liên tục không biết mệt. Sáng mặt trời chưa mọc đã thấy tiếng đục đẽo vang lên và chỉ dứt vào nửa đêm.

Quá trình dựng chùa, người ta lấy cối đá giã gạo, nấu cơm cho thợ ăn. Chùa xây xong cũng là lúc 36 cối đá thủng hết. Nhóm thợ sử dụng những cối đá thủng, gia cố lại giếng như ngày nay.

Khu vực phong cảnh xung quanh giếng nước. 

Nước trong giếng quanh năm đầy ắp, vị ngọt mát. Nước giếng chỉ sử dụng trong những dịp trọng đại như: Tắm tượng, các nghi lễ cúng lớn trong năm.

Hiện nhà chùa cho làm lưới giăng và sườn thép, tránh lá cây rụng xuống giếng, làm bẩn nước. Do có nhiều trẻ con trong làng vào chơi, sườn bảo vệ cũng tránh được việc trẻ vấp ngã xuống giếng, gặp tai nạn đuối nước.

Nhà chùa làm lồng sắt bảo vệ, đậy trên mồm giếng. 
kín trong 3 ngôi đền, chùa cổ ở Hưng Yên

Phố Hiến, chùa Chuông, đền thờ Chử tuỳ nhi… mỗi di tích đều chứa đựng những truyền thuyết kì bí, thấm đẫm màu sắc văn hóa từ nghìn xưa.

Thái Minh

Theo: https://khachsanthanhdong.com/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *